Chính sách hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19

Ngày đăng:

Chia sẻ:

Cùng chuyên mục

Chuyên trang rất mong nhận được sự quan tâm và cộng tác gửi bài của Quý Thầy/Cô, các nhà khoa học, chuyên gia, các bạn học viên, sinh viên và bạn đọc. Địa chỉ nhận bài viết: covid19@vnuhcm.edu.vn

    ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN

    Đại dịch COVID-19 ở Việt Nam, đặc biệt là làn sóng thứ 4 cùng với sự xuất hiện của biến chủng virus mới lây lan nhanh chóng đã gây ra những ảnh hưởng to lớn đến sức khoẻ, đời sống của người dân và đặt ra những thách thức chưa từng có tiền lệ đối với nền kinh tế. Trước tình hình này, Quốc hội và Chính phủ đã liên tiếp ban hành các chính sách nhằm kiềm chế sự lây lan, bùng phát của đại dịch COVID-19, đồng thời bảo đảm chính sách an sinh xã hội và giảm thiểu thiệt hại về kinh tế. Bài viết thực hiện một đánh giá các chính sách hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp dựa trên cơ sở tổng hợp quy định (đến tháng 09/2021) và khảo sát doanh nghiệp, từ đó có căn cứ giúp cho việc thảo luận, đề xuất các khuyến nghị chính sách để vượt qua đại dịch.

    1. Đánh giá tình trạng dịch COVID-19 tại Việt Nam

    1.1.  Xu hướng phát triển của dịch bệnh

    Số liệu của đợt dịch thứ 4 cho thấy tình hình dịch COVID-19 ở Việt Nam vẫn đang nghiêm trọng. Số người nhiễm tăng liên tục từ tháng 5/2021 và tăng nhanh từ tháng 7/2021 đến nay, theo đó là số lượng người tử vong tăng. Từ 27/4/2021 đến ngày 20/9/2021, Việt Nam đã có 682.618 ca nhiễm và 17.090 ca tử vong.

    (Nguồn: Our world in data, https://ourworldindata.org/coronavirus, truy cập ngày 20/9/2021).

    Vắc xin là yếu tố quyết định để đẩy lùi dịch bệnh, tuy nhiên tỷ lệ phủ vắc xin ở Việt Nam còn thấp. Dưới đây là Bản đồ vùng dịch của Việt Nam và Biểu đồ tỷ lệ tiêm vắc xin tại Việt Nam và một số nước ở Đông Nam Á.

    1.2. Đánh giá tình trạng hoạt động của doanh nghiệp

    Trong năm 2020, tình hình dịch bệnh ở Việt Nam được kiểm soát tương đối nhanh chóng cùng với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ đã góp phần duy trì tăng trưởng GDP dương. 6 tháng đầu năm 2021 GDP cũng đạt mức tăng trưởng 5,64%. Tuy nhiên, theo số liệu từ Báo cáo phục vụ Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp năm 2021, tháng 9/2021, số doanh nghiệp gia nhập thị trường giảm mạnh trong khi số doanh nghiệp rút khỏi thị trường tăng cao. Cụ thể, trong tháng 8/2021, cả nước có 114.025 doanh nghiệp gia nhập thị trường, giảm 7,25% so với cùng kỳ năm 2020. Trong 8 tháng đầu năm, có 85.508 doanh nghiệp rút khỏi thị trường, tăng 24,18% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó có 43.165 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tăng 25,89%; 30.147 doanh nghiệp tạm ngừng chờ giải thể, tăng 24,5% và 12.196 doanh nghiệp đã giải thể, tăng 17,81%. Tính riêng TP.HCM , trong 7 tháng đầu năm 2021 có 23.199 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2020.

    Theo một cuộc khảo sát được tác giả và đồng nghiệp thực hiện tại TP.HCM vào giai đoạn đầu năm 2021 với chủ sở hữu và nhân viên của 9 doanh nghiệp vừa và nhỏ, tất cả các chủ doanh nghiệp cho rằng họ phải đối mặt với sự sụt giảm nghiêm trọng về doanh thu và gánh chịu nhiều áp lực về việc duy trì hoạt động. Trong đó, 8/9 doanh nghiệp đã nộp đơn xin hỗ trợ nhưng chỉ nhận được mức cắt giảm danh nghĩa. 3 doanh nghiệp trong số đó đã yêu cầu ngân hàng giãn nợ thông qua các cuộc đàm phán không chính thức nhưng 1 doanh nghiệp không đạt được kết quả.

    Như vậy, các số liệu cho thấy tình hình dịch bệnh COVID-19 đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong khi các nguồn lực dự trữ của doanh nghiệp đang cạn dần, do đó cần có những giải pháp cụ thể, kịp thời từ nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp, vượt qua khó khăn do đại dịch và hồi phục kinh tế.

    2. Các chính sách hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi đại dịch
    2.1 Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động
    a. Chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất

    Người sử dụng lao động được áp dụng mức đóng bằng 0% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời gian từ 01/7/2021 đến hết 30/6/2022 cho người lao động thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đồng thời, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 dẫn đến phải giảm từ 15% lao động tham gia bảo hiểm xã hội trở lên so với thời điểm tháng 4/2021 thì người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất 6 tháng kể từ thời điểm nộp hồ sơ đề nghị.

    b. Chính sách hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động

    Người sử dụng lao động được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động. Mức hỗ trợ tối đa là 1.500.000 đồng/người lao động/tháng và thời gian hỗ trợ tối đa 6 tháng. Trên cơ sở khảo sát từ các doanh nghiệp cho thấy chính sách này không có nhiều hiệu quả trên thực tế, đặc biệt là ở các vùng có dịch nặng nề như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai. Nguyên nhân xuất phát từ việc các doanh nghiệp ở các vùng dịch đa phần đã ngừng hoạt động hoặc thu hẹp quy mô hoạt động tạm thời theo các yêu cầu về phòng chống dịch.

    c. Chính sách cho vay trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất

    Người sử dụng lao động được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0% và không phải thực hiện biện pháp bảo đảm tiền vay để trả lương ngừng việc đối với người lao động với thời hạn vay vốn dưới 12 tháng. Chính sách này theo đánh giá của các doanh nghiệp là không đi vào thực tiễn do gói vay khó tiếp cận, các điều kiện để được cho vay chặt chẽ, nhiều thủ tục trong khi số tiền hỗ trợ tương đối thấp.

    d. Chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh

    Hộ kinh doanh phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/12/2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch COVID-19 được ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần 3.000.000 đồng/hộ. Cũng như các chính sách hỗ trợ bằng phát tiền mặt khác, vấn đề cần quan tâm nhất là phát đúng và đủ đối tượng. Hiện tại do công tác thống kê chưa đầy đủ, việc thiếu sót trong liệt kê các đối tượng được hưởng trợ cấp vẫn xảy ra.

    2.2 Chính sách hỗ trợ người lao động

    Người lao động gặp khó khăn do đại dịch như tạm ngừng làm việc, mất việc làm, người lao động tự do, trẻ em… sẽ được hưởng trợ cấp tài chính bằng hình thức nhận tiền mặt. Đối với nhóm chính sách này, có thể thấy có các vấn đề như sau:

    Thứ nhất, vì không có dữ liệu cư dân thống nhất và đầy đủ, việc hỗ trợ tiền cho các đối tượng người lao động được thực hiện thông qua thống kê của tổ dân phố. Điều này dẫn đến việc có đối tượng cần được trợ cấp nhưng không tiếp cận được nguồn hỗ trợ, cũng có đối tượng có thể không phải đối tượng trợ cấp nhưng vẫn được nhận.

    Thứ hai, các chính sách hỗ trợ hiện nay chủ yếu là hỗ trợ tiền mặt một lần mà chưa bao quát được các vấn đề khó khăn khác trong đời sống của người lao động như lương thực thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ, làm việc và học tập tại nhà…

    Thứ ba, các chính sách chưa hướng đến các đối tượng đặc thù. Chẳng hạn, do hậu quả của dịch bệnh COVID-19, số lượng trẻ em mồ côi cha mẹ tăng mạnh ở các tỉnh thành có dịch, do đó cần thiết có những chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với đối tượng này.

    2.3 Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp

    a. Bảo đảm lưu thông hàng hoá

    Ngày 20/7/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 78/NQ-CP phiên họp Chính phủ chuyên đề về phòng, chống dịch COVID-19, theo đó chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tiến hành các biện pháp bảo đảm công tác vận tải, lưu thông hàng hoá giữa các địa phương đang thực hiện giãn cách xã hội với các địa phương khác thông suốt, hiệu quả. Tuy nhiên, dù đã có chính sách từ trung ương, trên thực tế cho thấy nhiều địa phương vì lo ngại tình hình dịch bệnh đã ban hành các quy định riêng để kiểm soát các phương tiện vận tải khi đi ra vào địa bàn, dẫn đến việc lưu thông hàng hoá giữa các vùng, miền trở nên khó khăn.

    b. Cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp

    Ngày 01/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. Bên cạnh đó, Chính phủ đã thống nhất cho phép tạm dừng xử phạt hành chính với các xe vận tải chưa thực hiện lắp camera giám sát hành trình đến hết ngày 31/12/2021, tại Nghị quyết 66/NQ-CP ngày 01/7/2021 nhằm tháo gỡ một phần khó khăn cho các đối tượng kinh doanh vận tải. Đồng thời, Chính phủ tiếp tục ban hành chính sách hỗ trợ giảm giá điện đối với các cơ sở lưu trú du lịch, các cơ sở đang được sử dụng làm nơi cách ly, khám bệnh COVID-19 không thu phí.

    c. Chính sách tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp

    Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 nhằm tiếp tục thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Tuy nhiên, chính sách này không được thực thi một cách hiệu quả trên thực tế do quy trình gia hạn nợ, cơ cấu trả nợ, miễn giảm lãi suất của ngân hàng phức tạp, yêu cầu chặt chẽ mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng được. Bên cạnh đó, hiện thiếu cơ chế bảo lãnh đặc biệt cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nên các ngân hàng thương mại càng thêm do dự khi thực hiện các biện pháp hỗ trợ. Theo kết quả khảo sát với các doanh nghiệp và ngân hàng cho thấy, hơn 30% số doanh nghiệp không đạt được chấp thuận hỗ trợ từ ngân hàng ngay từ những bước đàm phán đầu tiên. Nhìn chung, ngân hàng vẫn duy trì một khoảng cách với doanh nghiệp gặp khó khăn và điều này có mối liên quan với hệ quả nhiều doanh nghiệp rút khỏi thị trường trong giai đoạn này.

    d. Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp

    Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP ngày 19/4/2021 gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2021 với tổng giá trị khoảng 115.000 tỷ đồng; Nghị định số 44/2021/NĐ-CP ngày 31/3/2021 cho phép thực hiện giảm trừ chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống dịch COVID-19.

    Hiện nay, Chính phủ đã trình Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành chính sách giảm một số loại thuế cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh trong năm 2021, dự kiến khoảng 20.000 tỷ đồng. Dự thảo này được các doanh nghiệp rất trông đợi thông qua. Đây là các biện pháp đủ mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khôi phục sản xuất kinh doanh, trong bối cảnh các biện pháp hỗ trợ không đạt được nhiều hiệu quả như kỳ vọng của doanh nghiệp.

    1. Thảo luận

    Qua quá trình tổng hợp thông tin cũng như khảo sát doanh nghiệp, xác định các điểm hạn chế của từng chính sách, chúng tôi cho rằng có một số vấn đề cần thiết phải được xem xét và thảo luận nhằm hoàn thiện các chính sách hỗ trợ cho các chủ thể bị ảnh hưởng bởi đại dịch.

    Trước hết, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng bởi đại dịch cần xuất phát từ thực tiễn, bảo đảm một chính sách khi được ban hành sẽ được thực thi trên thực tế nhằm khắc phục tình trạng có chính sách nhưng các chủ thể thụ hưởng thực tế khó tiếp cận. Bên cạnh đó, việc triển khai các chương trình hỗ trợ cần đơn giản hóa thủ tục, vận dụng công nghệ, cơ sở dữ liệu về dân cư và doanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể bị ảnh hưởng bởi đại dịch có thể tiếp cận các nguồn hỗ trợ.

    Thứ hai, xây dựng các phương án hỗ trợ người lao động một cách toàn diện, không chỉ tập trung vào việc hỗ trợ bằng tiền mặt. Chẳng hạn, nhà nước cần ban hành chính sách hỗ trợ các đối tượng đặc thù như trẻ mồ côi, xem xét cấp bảo hiểm y tế cho các đối tượng bị ảnh hưởng, giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến chính sách bảo hiểm thất nghiệp, giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục rút gọn để giảm thiểu đình công.

    Thứ ba, thống nhất các quy định về hỗ trợ các đối tượng bị ảnh hưởng. Các chính sách cần được xây dựng và thực hiện một cách thống nhất trên phạm vi cả nước; các tỉnh, thành phố không tùy tiện xây dựng và áp dụng các biện pháp khác nhau, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi lưu thông và tiêu thụ hàng hoá. Cụ thể, cần bãi bỏ các quy định riêng của các địa phương về hạn chế, kiểm soát vận tải hàng hóa giữa các vùng; tuân thủ hướng dẫn của Chính phủ về luồng xanh vận tải để bảo đảm vận chuyển, lưu thông hàng hóa thông suốt, tránh tình trạng đứt gãy nguồn cung ứng.

    Thứ tư, chính sách hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp cần được đặc biệt quan tâm. Khu vực kinh tế hiện gặp một số khó khăn nhất định do sự hỗ trợ của Chính phủ cho các doanh nghiệp và sự hợp tác từ phía ngân hàng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế. Hành vi của các ngân hàng trong đại dịch COVID-19 có thể khác nhau nhưng có điểm chung là sự thận trọng của họ trong việc gia hạn các khoản vay. Điều này đã khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp khó khăn, hậu quả dẫn đến sự gia tăng các trường hợp mất khả năng thanh toán và quy mô lớn các doanh nghiệp rời thị trường. Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể từ ngân hàng nhà nước trong việc giãn nợ, chuyển nhóm nợ,… để các ngân hàng thương mại có cơ sở tiến hành trên thực tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cần xem xét các biện pháp bảo đảm khoản vay để chia sẻ rủi ro với ngân hàng và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các gói vay vốn từ ngân hàng nhằm duy trì hoạt động.

    Như vậy, trên tinh thần của Thủ tướng Chính phủ về một tương lai “sống chung với COVID-19”, các cơ quan nhà nước cần có sự cân nhắc và tính toán kỹ lưỡng về các chính sách hỗ trợ để bảo đảm việc nới lỏng giãn cách sẽ đạt được hiệu quả tốt nhất, xét theo cả khía cạnh sức khoẻ, sinh kế của người dân và “sức khoẻ” của nền kinh tế.

    Bài viết khác

    BÌNH LUẬN

    Vui lòng nhập bình luận của bạn
    Vui lòng nhập tên của bạn ở đây